Thứ Tư, 24 tháng 7, 2013

Doanh nghiệp ngại đầu tư công nghiệp hỗ trợ

Kết quả Dự án Điều buông sát hoạt động công nghiệp tương trợ do trọng tâm Thông tin và Dự báo kinh tế từng lớp nhà nước (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) thực hành với 650 doanh nghiệp (DN) tại TP.HCM và Bình Dương mới đây cho thấy, niềm tin của DN với triển vọng phát triển công nghiệp tương trợ trong những năm tới rất thấp.

Chỉ có 41,4% DN trong tổng số 650 DN được khảo sát cho biết sẽ nối đầu tư, trong khi số còn lại không đầu tư, hoặc chưa có quyết định đầu tư rõ ràng.

Không chỉ sút giảm niềm tin về đầu tư cho công nghiệp tương trợ, kết quả khảo sát trên cũng chỉ rõ thực trạng hoạt động của các DN công nghiệp tương trợ.

Ông Nguyễn Viết Sê, Chủ nhiệm Dự án cho biết, trình độ công nghệ trong các DN công nghiệp hỗ trợ tại TP.HCM, Bình Dương còn khá lạc hậu, đang và sẽ là chướng ngại lớn cho phát triển ngành công nghiệp tương trợ thời kì tới.

Ông Sê cho hay, dù ở quy mô nào, công nghệ luôn có vai trò đặc biệt quan yếu đối với công nghiệp tương trợ. Dự án này chọn tiêu chí mức độ tự động hóa để khảo sát trình độ công nghệ trong các DN công nghiệp hỗ trợ.

Theo kết quả điều tra, chỉ có 27% trong tổng số DN được điều tra đầu tư công nghệ tự động; 58% bán tự động; 8% là công nghệ thủ công. Đặc biệt, tỷ lệ công nghệ tự động của DN 100% vốn nước ngoài (FDI) gấp 2 lần DN tư nhân. Các ngành điện tử, ô tô có tỷ lệ tự động hóa không vượt trội so với mức bình quân chung.

Về đầu tư đổi mới công nghệ, trong số 650 DN điều tra, có 57% DN đã đầu tư đổi mới từng phần dây chuyền công nghệ trong 3 năm gần đây; 35% DN không đầu tư đổi mới công nghệ, trong khi chỉ có 3% DN có đầu tư mới, hoặc đổi mới hoàn toàn công nghệ.

Mức đầu tư cho công nghệ thấp cũng ảnh hưởng tới chất lượng và đầu ra sản phẩm. Trong 627 DN kinh doanh 460 mã sản phẩm và dịch vụ, thì sản phẩm công nghiệp tương trợ chỉ chiếm 46,7%.

Tỷ lệ sản phẩm xuất khẩu bình quân các DN điều tra chiếm 32,6% tổng doanh thu, trong đó tỷ lệ xuất khẩu bình quân của các DN FDI là 42,7%, gấp hơn 3 lần tỷ lệ xuất khẩu bình quân của các DN tư nhân; DN ngành điện, điện tử tin học có tỷ lệ sản phẩm xuất khẩu chiếm 57,7%. Tỷ lệ tiêu thụ nội địa chiếm 60,3% (còn lại tiêu thụ nội bộ DN), trong đó tỷ lệ tiêu thụ nội địa của các DN tư nhân là 79,4%, DN FDI là 50,3%.

Trong tổng số nguồn nguyên nguyên liệu, linh kiện, phụ tùng đầu vào của DN FDI, nguồn từ nhập khẩu chiếm 53,1%; nguồn do DN tư nhân cung ứng chiếm 30,8% và do DN FDI cung cấp chiếm 17,1%. Các số liệu ứng với DN tư nhân là 18,9%; 72,2% và 6,1% cho thấy, tính liên kết thị trường giữa DN công nghiệp tương trợ rất kém.

Hơn 74% tổng số DN được điều tra, kể cả DN FDI đều xác nhận rất quan tâm đến nhà cung cấp nội địa. Điều này cho thấy, năng lực của các nhà cung ứng nội địa còn hạn chế so với yêu cầu của các nhà sinh sản, lắp ráp.

Ông Kinya Okada, Giám đốc bộ phận điều phối ngành máy in laser (Công ty Canon Việt Nam) cho biết, kế hoạch mở mang đối tác Việt Nam trong danh sách các nhà cung cấp của Canon Việt Nam tiếp khó khăn, do số lượng DN cung cấp nội địa còn quá hạn chế.

Nếu nhìn vào danh sách các DN sinh sản linh kiện điện tử như tụ điện, điện trở, hay đơn giản hơn như biến áp, cuộn dây…, thì hoàn toàn vắng bóng DN Việt Nam. Như vậy, nhịp gia nhập danh sách nhà cung cấp cho Canon của DN Việt Nam tưởng như mở rộng, song rất khó khả thi.

“Mong mỏi của Canon Việt Nam là tìm kiếm được đối tác Việt Nam cung cấp được linh kiện điện tử cho Canon, với mục tiêu tăng tỷ lệ nội địa hóa, giảm phi phí sản xuất của Canon trong năm 2013, tuy nhiên, sau khi thông báo nhiều lần, Canon vẫn chưa tìm thấy DN nội địa nào đáp ứng được nhu cầu”, ông Kinya Okada cho biết.

Để công nghiệp tương trợ phát triển, ngoài sự nỗ lực đầu tư của các DN, việc thụ hưởng các chính sách cao hay thấp cũng sẽ tỷ lệ thuận với việc chi đầu tư cho công nghiệp tương trợ.

Ông Sê cho rằng, tỷ lệ DN được thụ hưởng chính sách trên thực tại khá thấp so với tổng số DN được điều tra. Cao nhất là chính sách miễn giảm thuế và tiền thuê đất bình quân, với 45% DN điều tra được thụ hưởng trong thời kì khảo sát, trong đó tỷ lệ này của DN FDI là 52,4%, trong khi DN tư nhân là 32,8%.

Rưa rứa, với chính sách tương trợ tín dụng, chỉ có 19,1% DN được thụ hưởng. Duyên do, theo các DN chủ yếu do chính sách đổi thay quá nhanh và thiếu nhất quán.

Như vậy, ngoài những căn nguyên khách quan do khó khăn từ nội tại DN, nâng cao chất lượng xây dựng và ban hành chính sách là giải pháp quan yếu với các DN công nghiệp hỗ trợ.

Thế Hải


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét